• [Đọc sách]: Ảo ảnh trong xã hội dư thừa kết nối

    Tháng Một 15, 2026
    Uncategorized

    Ảo ảnh trong xã hội dư thừa kết nối hóa ra là một cuốn sách dành cho người hướng nội. Tôi đã phải “ồ” lên khi phát hiện ra điều đó ở những dòng mở đầu, khi tác giả giới thiệu những gì mình sẽ viết ở những trang tiếp theo. Tất nhiên sau đó tôi biết thêm rằng nó không chỉ dành cho người hướng nội, mà còn cho tất cả những ai đang cảm thấy cuộc đời mình quá nhiều “tiếng ồn” mà không hiểu rõ nguyên nhân, thậm chí cho cả những người hướng ngoại vốn rất dễ rơi vào tình trạng quá tải trong kỷ nguyên này. Nói chung, cuốn sách nói về việc chúng ta có thể bảo vệ tâm hồn mình như thế nào trong thời đại mạng xã hội, thời đại AI.

    Với tôi, đó là một món quà bất ngờ đầu năm. Nó mang đến một chút đồng cảm vì biết rằng ở ngoài kia mọi người cũng đang trải qua những vất vả giống như mình. Thực ra là rất, rất đồng cảm. Ban đầu, tôi chỉ kỳ vọng rằng vì đây là cuốn sách của một nhà báo tài năng và có tâm, với ngòi bút sắc sảo, tư duy mạch lạc, kiểu “đọc đến đâu sáng đến đấy” nên sẽ giúp mình nhìn ra nhiều vấn đề đa dạng, dù đó là vấn đề gì. Và quả nhiên, những insights về kinh tế, vấn đề công ăn việc làm của người trẻ qua các thời kỳ phát triển của đất nước đã được tác giả mô tả trong sách theo cách vừa chân thật vừa độc đáo, rõ ràng nhờ kinh nghiệm của một người làm báo lâu năm, một người tình cờ cũng hướng nội, và luôn cố gắng cất lên tiếng nói cho những chủ thể ít được truyền thông chính thống nhắc đến. Điều tôi thích nữa ở cách viết của Đinh Đức Hoàng là cảm giác anh vừa đứng ở một điểm nhìn khá cao để quan sát những chuyển động lớn của xã hội, vừa đủ tinh tế để đi vào những chi tiết nhỏ, mà không tạo ra cảm giác trịch thượng. Anh giữ được một thái độ khiêm nhường, luôn ý thức mình cũng chỉ là một người đang cố gắng hiểu thế giới quanh mình. Một cuốn sách như vậy, tự nó đã đủ để trở thành niềm vui thuần khiết của việc đọc.

    Nhưng ai dè, nó còn viết về những chủ đề thiết thân với tôi: sự hướng nội, thích sống cô độc, coi trọng nuôi dưỡng đời sống bên trong, không thích giao tiếp xã hội…, nhất là trong một thời đại tôn sùng xây dựng quan hệ, nơi sự nổi tiếng nhiều khi được coi là vốn liếng làm ăn, cần được chăm sóc càng nhiều càng tốt. Trong sách, tôi được gặp những nhân vật mình biết ở ngoài đời thực. Đó là các diễn viên, ca sĩ, họa sĩ, đạo diễn, kiến trúc sư, doanh nhân… đã được công nhận ở lĩnh vực của họ, những người hóa ra có lối sống và lối suy nghĩ giống tôi. Qua các trao đổi của họ, tôi biết được họ đã sống sót, thậm chí để lại dấu ấn của mình như thế nào với tính cách hướng nội, ngại giao tiếp ấy. Những lời tâm sự của họ mang đến cho tôi một niềm an ủi lớn lao vì biết rằng mình không lạc loài, có những người giống mình và họ không những sống ổn với đúng con người họ mà còn tạo ra giá trị cho cộng đồng. Đối với tôi, đó là một sự kết hợp quá tuyệt để cuốn sách này trở thành cuốn sách đầu tiên của năm. (Ban đầu tôi đã định đọc Poor Charlie’s Almanack – Cẩm nang của Charlie Munger – tập hợp các bài viết của Charlie Munger, phó chủ tịch Berkshire Hathaway và cộng sự lâu năm của Warren Buffett. Nhưng cuốn sách của Đinh Đức Hoàng đã ngẫu nhiên và nghiễm nhiên chiếm lấy vị trí đầu tiên ấy.)

    Ở chương 1, tác giả phản biện tư duy truyền thống cho rằng “quan hệ xã hội quyết định thành công của mỗi người”, và khẳng định rằng ngày nay giá trị của một cá nhân nằm ở khả năng tư duy độc lập và nhận thức bên trong. Những phẩm chất nghe rất cũ như khả năng ghi nhớ, quan sát, sự kiên nhẫn, thói quen đọc dài và đọc nhiều… lại được đặt ở trung tâm như nền tảng của mọi cơ hội.

    “Ngày nay, tư duy độc lập là một dạng lập trường, thứ ta cần giữ vững như lòng chung thủy trong tình yêu chứ không hẳn là một dạng kỹ năng”

    “Dẫu cho tôi, cũng như thầy Hảo, tự nhận thức được rằng có thể mình sắp trở nên vô dụng trong nền kinh tế mới, chúng tôi vẫn phải chiến đấu đến tận ngày cuối cùng. Và nếu phải nhặt lên hai vũ khí cầm trên hai tay để xông vào đánh nhau với ChatGPT và Gemini, tôi sẽ chọn hai khả năng đọc và quan sát. Một mình.”

    Chương 2 tập trung chứng minh rằng những kết nối thừa mứa, lượng follow hay tương tác cao thực chất là vô nghĩa, thậm chí độc hại. Nó không mang lại hiệu quả kinh tế hay quan hệ tình cảm nào tương xứng với chi phí bỏ ra. Chi phí ở đây là thời gian, sự chú ý, khả năng tập trung, và năng lượng để hấp thụ cũng như để sáng tạo nội dung. Tác giả viện dẫn và giải thích ngắn gọn các khái niệm như “nền kinh tế sức chú ý”, “đế quốc dopamin”, “cửa tiệm hy vọng”, “job to be done”, “phễu khách hàng”, “tỉ lệ chuyển đổi”, “so sánh xã hội hướng lên” (những thứ tạo ra cảm giác bất an hơn là hiểu biết). Để giành lại sự chủ động khi tham gia mạng xã hội, tác giả gợi ý một cách để bạn giành chiến thắng trong cuộc chiến với thuật toán, đó là bạn cần phải có một mục đích khi bắt đầu “vuốt ngón tay cái” lướt mạng. Mục đích đó tốt nhất nên là để học hỏi. Để học hỏi chủ động mà không bị thuật toán dẫn dắt theo thói quen của bạn (thường bạn sẽ dừng lại lâu hơn ở những gì bạn thích và đã quen thuộc), hãy chủ động tìm hiểu về những điều mà bạn biết là mình chưa biết. Từ đó, bạn sẽ được dẫn dắt đến những điều mà bạn không hề biết là mình không biết. Đó chính là nơi việc học hỏi thực sự diễn ra theo chiều sâu.

    Chương 3 đưa cuốn sách trở lại với một chủ đề tưởng như triết học siêu hình: vẻ đẹp nội tâm và khả năng đặt câu hỏi của con người. Tác giả cho rằng trong thời đại AI, khả năng tự hỏi những câu hỏi như “tôi là ai?”, “tại sao tôi lại ở đây?” – hay nói rộng ra, năng lực nhận thức về thế giới và chính mình – chính là điều phân biệt con người với cỗ máy. Việc chủ động quan sát cuộc sống, đặt câu hỏi, đào sâu những day dứt nhỏ nhặt hằng ngày… chính là thế mạnh tạo nên sự khác biệt.

    Tôi cũng chú ý đến những chi tiết nhỏ khi tác giả kể về chính mình: khi anh mang trong lòng những trăn trở suy tư, có phần mang màu sắc triết học siêu hình, thì ai sẽ là người có thể ngồi xuống trò chuyện cùng anh về những điều ấy? Cảm giác cô đơn xuất phát từ việc phần lớn thời gian chúng ta giao tiếp với nhau qua những vai trò xã hội được định sẵn, hiếm khi thực sự xuất hiện trước nhau như những con người cụ thể với những băn khoăn riêng.

    Là người hướng nội, hay ở một mình và hay suy nghĩ, tôi cảm thấy như được biện minh. Hóa ra việc sống chậm, suy nghĩ nhiều, đặt câu hỏi cũng có thể được xem như một cách nghiêm túc để… làm người. Và “làm người” không còn là điều hiển nhiên trong thời đại AI nữa – nó trở thành một nỗ lực có ý thức, thậm chí là một hành động phản kháng.

    Khả năng cảm nhận, đặt câu hỏi và kết nối những tín hiệu tinh tế từ cuộc sống không chỉ giúp chúng ta cạnh tranh trong thời đại AI, mà còn là yếu tố thiết yếu trong hành trình trưởng thành. Có những suy tư chỉ đơn giản là để hiểu rõ hơn về bản thân, không nhất thiết phải gắn với mục đích kiếm tiền hay “cạnh tranh với AI”. Trong các nhân vật được phỏng vấn (như họa sĩ Xuân Lan, đạo diễn Việt Tú, Giáo sư Xoay Đinh Tiến Dũng…), tôi đặc biệt ấn tượng với nghệ sĩ Mew – tác giả bài hát Thật bất ngờ do Trúc Nhân thể hiện. Anh luôn soi xét và đào sâu vào những biến cố trong đời mình. Theo anh, trưởng thành chính là học cách chấp nhận sự không chắc chắn của thế giới, những ranh giới mờ nhạt giữa đúng và sai, những vùng xám của đạo đức… Điều này có giúp ích cho sự nghiệp hay không thì chưa chắc. Dù có những sản phẩm thành công, việc khám phá những vùng mờ xám trong tình yêu đôi khi khiến anh bị chỉ trích. Nhưng anh tin chắc một điều: nhận thức này có lợi cho cuộc sống cá nhân:

    Ở chương 4 và 5, tác giả quay về bối cảnh đặc thù của xã hội Việt Nam: văn hóa làng xã, văn hóa nhậu, những cách con người gắn bó với cộng đồng để tồn tại và thăng tiến. Tác giả thừa nhận rằng chúng ta không thể hoàn toàn tách mình khỏi xã hội, nhưng điều quan trọng là phải xác định được giá trị cốt lõi của bản thân và tìm ra điểm cân bằng phù hợp. Việc duy trì sự cân bằng này là một quá trình liên tục hằng ngày, chứ không phải điều gì đó đạt được một lần rồi giữ nguyên mãi. Luận điểm “tắc kè hoa ăn bánh lớn” cho thấy rằng những người biết hòa nhập và linh hoạt thích nghi sẽ có nhiều lợi thế hơn, nhưng sự linh hoạt đó chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trên nền tảng của những giá trị nội tại đã được suy ngẫm kỹ lưỡng.

    Ảo ảnh trong xã hội dư thừa kết nối cho tôi thêm lý do để tiếp tục sống chậm, đọc kỹ, ở một mình nhiều, và bảo vệ những khoảng lặng bên trong. Thông điệp quan trọng của cuốn sách này là nó bênh vực cho ý nghĩa của các mối quan hệ có chiều sâu. Trong xã hội dư thừa kết nối, những cuộc trò chuyện đủ sâu không chỉ quan trọng với hạnh phúc và sức khỏe tâm thần, mà đôi khi còn mở ra những hợp đồng kinh tế, những khách hàng bền vững, mang lại sự ổn định tài chính, chỉ cần chúng ta luôn nhớ quay về soi lại đời sống nội tâm của chính mình.

    Chưa có bình luận trong [Đọc sách]: Ảo ảnh trong xã hội dư thừa kết nối
  • “THÁP ĐỒNG CẢM TOKYO” VÀ VIỆC SỬ DỤNG AI

    Tháng Mười Một 4, 2025
    Uncategorized

    Tiểu thuyết đoạt giải Akugatawa “Tháp đồng cảm Tokyo” được ban giám khảo nhận xét là “hoàn hảo đến mức khó tìm ra lỗi” và “được yêu thích khắp mọi nơi”, nhưng khi tác giả Qudan công khai việc cô sử dụng AI trong quá trình sáng tác, cô đã làm dấy lên một làn sóng tranh cãi. Tuy nhiên, nếu bạn đọc sách, bạn sẽ thấy AI là chủ thể được đề cập đến chứ không phải là công cụ mà tác giả sử dụng để viết hộ cô.

    Trong tiểu thuyết, Qudan đặt Sara, nữ kiến trúc sư đang kiệt sức giữa áp lực thiết kế tháp và đời sống riêng, trước một bối cảnh rất quen thuộc thời AI: cô mở chatbot để trò chuyện. Ngay lập tức, đối thoại diễn ra trôi chảy với câu chữ êm mượt, hợp lý, đúng mực, luôn biết đáp lại kỳ vọng của người chat. Chính từ độ trơn tru ấy, tác phẩm cố ý khuấy lên cảm giác thiếu vắng, một thứ đồng cảm hoàn hảo về ngôn ngữ nhưng rỗng về trải nghiệm đạo đức. Từ đây, Qudan khéo léo để người đọc tự tìm đến những suy ngẫm riêng.

    Thứ nhất, sự an ủi do AI kiến tạo có thể làm phẳng xung đột luân lý bằng một lớp ngôn ngữ hợp lý, khiến nhân vật lẫn lộn giữa “lời đúng” và “điều đúng”. Nói cách khác, cái thiếu không phải dữ kiện mà là độ gai góc của ký ức, của tổn thương, của trách nhiệm trong đời sống thật mà chỉ quan hệ giữa con người với con người mới truyền tải được.

    Thứ hai, tính trơn tru có thể dễ dàng thao túng cảm xúc theo cách giống như thôi miên. Một cấu trúc an ủi tối ưu để giảm ma sát có thể tạo nên cảm động tức thì, nhưng lại không để lại cái nhức nhối đạo đức trong tâm trí; vì thế, nó không khơi nổi hành động hay tự vấn bền lâu. Đây là một phê bình trực diện đối với việc dùng AI như bạn tâm giao: chúng ta có ngôn ngữ đúng, nhạc điệu đúng, nhưng lại thiếu đi trải nghiệm thực làm nền cho ý nghĩa.

    Sau cùng, AI không đứng một mình mà nó đan xen và tương tác với các lĩnh vực xã hội, từ cách thiết kế không gian giam giữ, cách tổ chức kiến trúc đô thị, cho đến cách định hình vai trò giới. Mở ngoặc ở đây một chút: tháp đồng cảm trong tiểu thuyết là một nhà tù kiểu mới, nơi tội phạm được giam trong một môi trường sống lý tưởng (dựa trên niềm tin rằng người ta phạm tội là do môi trường xấu, hoàn cảnh xấu, nếu được sống trong một môi trường “sạch” và chỉ nói/nghe những lời tích cực thì ai cũng là người tốt). Vấn đề đặt ra là khi một hệ thống ngôn ngữ nhân đạo bao gồm chỉ toàn ngôn từ tích cực, loại bỏ ngôn từ tiêu cực được AI hỗ trợ để tạo văn bản, thì ngôn từ rất có thể hợp thức hóa chính sách trước cả khi kinh nghiệm xã hội kịp kiểm chứng. Càng mượt mà càng bất an, bởi vì thực tại bị buộc phải khớp với câu chữ mượt mà ấy.

    Trong ảnh và dưới đây là hai đoạn trích thể hiện suy nghĩ của nhân vật Sara khi chat với AI:

    “AI-built ngay lập thức kiến tạo câu trả lời. Tôi thích AI ở điểm nó không bỏ qua thắc mắc ngay cả khi tôi nói chuyện không đúng cấu trúc câu. Miễn sao thứ tôi gõ ra là ngôn từ, AI sẽ phản hồi lại ngay lập tức. Nó cứ miệt mài xây dựng câu văn, cặm cụi đến đáng yêu.”

    Chưa có bình luận trong “THÁP ĐỒNG CẢM TOKYO” VÀ VIỆC SỬ DỤNG AI
  • Nỗi nhớ, cái chết và những dấu vết còn lại trên mạng

    Tháng Tám 5, 2025
    Uncategorized

    Sáng nay, Facebook nhắc: “Hôm nay là sinh nhật của MH.” Tôi ngồi nhìn dòng chữ đó trên màn hình, cảm giác trong ngực chùng xuống. MH, anh tôi, đã mất được hai năm rồi. Đêm ấy, anh đi một mình, lặng lẽ, không để lại lời trăn trối. Thế mà tới giờ, mạng xã hội vẫn nhớ ngày sinh của anh, vẫn thông báo sinh nhật anh như thể anh chỉ đang ở một nơi nào đó không có sóng, chứ không phải nơi không thể quay về.

    Tôi ngẩng lên nhìn khung tranh treo trên tường, nơi còn lưu lại bức tranh chữ anh tặng tôi. Anh vốn là một ông đồ, và chữ anh viết tặng tôi là chữ “Anh” – vừa mang nghĩa tài hoa, vừa ẩn ý về ánh sáng, sự rạng rỡ. Có người nói chữ này còn hàm chứa ý về sự kiên định và thanh cao, những phẩm chất anh luôn trân trọng. Tôi nhớ anh nhiều. Ngày tôi còn bé, anh là người được gia đình “cử” đưa tôi đi thi những kỳ thi quan trọng. Mọi người kỳ vọng tôi sẽ làm được điều gì đó, sẽ trở thành người có thành tích phần nào giống như anh. Những lần ngồi sau lưng anh trên chiếc xe máy cũ, tôi không nghĩ sau này mình sẽ nhận thông báo sinh nhật anh trên một ứng dụng khi anh đã không còn.

    Tôi tưởng tượng, nếu một ngày nào đó tôi chết, linh hồn mình vẫn còn lang thang đâu đó trong không gian mạng, bối rối không rõ mình là ai, thuộc về chỗ nào. Rồi bất ngờ, tôi nhận được một thông báo lạnh lùng từ hệ thống: “Chúng tôi rất tiếc, nhưng bạn đã qua đời.” Cái gì cơ? Tôi sẽ ngẩn ra vài giây, như khi ta đọc một tin nhắn tưởng gửi nhầm rồi mới hiểu là gửi đúng. Có thể tôi sẽ chờ thêm một lúc, hy vọng hệ thống đính chính, giải thích rằng đây chỉ là lỗi kỹ thuật. Nhưng sẽ chẳng có dòng đính chính nào xuất hiện. Chỉ còn một ô “Đồng ý” và một câu nhỏ bên dưới: “Bạn có muốn để lại tài khoản làm kỷ niệm không?” Thế là, bằng một cú bấm, tôi chính thức chuyển trạng thái từ sống sang chết trong thế giới số.

    Heidegger nói con người là “hiện hữu hướng tới cái chết”. Tôi hiểu câu đó như một lời nhắc: suốt đời sống, ta không thể tránh khỏi ý thức rằng một ngày nào đó mình sẽ không còn. Ý thức về giới hạn này, theo ông, chính là thứ định hình cách ta trải nghiệm cuộc sống và nỗ lực tìm nghĩa trong đó. Nhưng tôi tự hỏi: trong thời đại mà dấu vết số không biến mất cùng thân xác, liệu cái chết còn mang nghĩa giống như khi Heidegger ngồi viết trong căn phòng của mình ở châu Âu những năm 1920?

    Trong không gian mạng, ranh giới giữa “còn” và “không còn” trở nên mờ đi. Người đã mất nhưng dữ liệu số của họ vẫn ở lại: hình ảnh, tin nhắn, những bài đăng cũ, những lời chúc sinh nhật, những bình luận vụn vặt. Tài khoản mạng xã hội tiếp tục hiện lên trong mục gợi ý kết bạn, trong ô “ngày này năm xưa”, trong những album mà ai đó lỡ tag. Hiện diện của họ trở thành một dạng có mặt kỳ lạ khi thân xác không còn, nhưng tên tuổi, ảnh chân dung và cả giọng nói vẫn xuất hiện đều đặn trên màn hình. Khi cái chết không còn đồng nghĩa với việc biến mất hoàn toàn, câu hỏi “họ đã thật sự chết chưa?” bỗng khó trả lời hơn. Hay có lẽ, chúng ta đang chứng kiến một kiểu tồn tại mới mà các triết gia cổ điển chưa nghĩ tới.

    Camus cho rằng cái chết là điều phi lý tột cùng của đời người. Tôi thấy, nếu đặt thêm công nghệ vào đó, sự phi lý còn bị kéo dài hơn. Ngày nay, người đã khuất không chỉ được tưởng nhớ bằng ảnh và chữ, mà còn được tái hiện bằng trí tuệ nhân tạo, từ gương mặt, giọng nói, thậm chí cả phong cách trò chuyện đều có thể được mô phỏng. Một số phần mềm tạo ra những đoạn hội thoại mới, những câu nhắn mới, như thể người đã mất vẫn đang online đâu đó, vẫn trò chuyện, vẫn hỏi han. Công nghệ có thể khiến họ cười, khóc, an ủi, đưa ra lời khuyên bằng một giọng rất quen. Tất cả chân thực đến mức, nếu không tự nhắc mình rằng đây chỉ là thuật toán, ta dễ nhầm lẫn giữa ký ức và hiện tại.

    Tôi từng đọc câu chuyện về một người mẹ ở Hàn Quốc trò chuyện mỗi ngày với bản sao ảo của con gái mình. Cô bé đã chết vì bệnh, nhưng nhờ công nghệ VR, hình hài, giọng nói, cả cách cười của cô được tái dựng lại. Trong chiếc kính thực tế ảo, người mẹ có thể nhìn thấy con, nghe con gọi, thậm chí dang tay ôm bóng hình ấy giữa một không gian giả lập. Nhìn cảnh người mẹ khóc, ôm cái dáng vẻ không thể chạm vào ấy, tôi chỉ thấy đau lòng. Tôi tự hỏi, nếu là tôi, liệu tôi có dám bước vào căn phòng VR ấy không. Nói cho cùng, đó không phải sự sống lại. Đó là một hình thức từ chối chấp nhận mất mát, một cách dùng công nghệ để trì hoãn khoảnh khắc phải nói lời tạm biệt thật sự.

    Epicurus thì chọn một lối nhìn khác, nhẹ nhàng hơn: “Khi ta còn sống thì cái chết chưa đến; còn khi cái chết đến, ta lại chẳng còn ở đây.” Câu nói nghe qua tưởng đơn giản, nhưng nếu nghĩ kỹ, nó giúp ta tháo bớt nhiều sợi dây sợ hãi. Ông đặt cái chết ra ngoài phạm vi trải nghiệm trực tiếp của con người: sống thì chưa chết, chết rồi thì không còn là “ta” nữa để mà lo. Cách nhìn này, theo tôi, giống như một cái khung giúp ta bớt hoảng loạn khi nghĩ đến kết thúc. Nhưng công nghệ hiện đại, nhất là văn hóa quanh các nền tảng số, dường như không cam lòng với ý tưởng “chẳng còn ở đây”. Nó cố níu giữ chúng ta lại bằng mọi thứ có thể lưu trữ: ảnh, tin nhắn, video, log hoạt động, lịch sử chat, dữ liệu giọng nói.

    Thuật toán tiếp tục đề xuất, nhắc nhở, nhô lên trên màn hình những khoảnh khắc mà ta tưởng đã đi qua. Chúng gom các mảnh dữ liệu ấy lại và mang đến cho người sống như những bằng chứng rằng người đã mất vẫn đâu đó quanh đây. Một phần của ta biết là không đúng, nhưng một phần khác lại thấy nhẹ lòng khi vẫn có cái gì đó để bấu víu. Giữa hai phần ấy, ranh giới giữa nhớ và ảo tưởng trở nên mong manh.

    Trong buổi sáng nhìn thấy thông báo sinh nhật của anh, tôi bắt đầu nghĩ về mong muốn của chính mình nếu một ngày không còn trên đời nữa. Tôi thấy rõ một điều: tôi không muốn tiếp tục hiện diện trên mạng. Tôi không muốn sinh nhật mình vẫn được nhắc mỗi năm, không muốn những bài viết cũ liên tục hiện lại như thể tôi chỉ đang tạm vắng mặt. Tôi muốn mình được offline một cách yên ổn, giống như một chiếc lá rụng xuống đất vào mùa thu và nằm yên ở đó, không bị ai nhặt lên dựng lại trong một thế giới giả lập.

    Nếu ai đó muốn tưởng nhớ tôi, tôi mong họ làm điều đó theo cách nhẹ nhàng hơn: bằng một tách trà nóng đặt trên bàn trong buổi chiều yên tĩnh, một khoảnh khắc ngồi lặng đi, nghĩ về nhau, thay vì một status dài trên mạng. Tôi không mong ảnh mình được chia sẻ lại, không mong những tin nhắn riêng tư bị lôi ra như bằng chứng cho một kiểu thân mật, lại càng không mong tên mình xuất hiện trong các cuộc trò chuyện trực tuyến như một chủ đề gợi tương tác.

    Tôi muốn được biến mất khỏi thế giới số giống như cách mình rời khỏi thế giới thực, không để lại gánh nặng cảm xúc nào buộc người ở lại phải diễn giải công khai. Có những thứ nên được giữ riêng cho người trong cuộc. Có những nỗi nhớ, nếu sống yên trong lòng người, có khi lại chân thật hơn là xuất hiện trên màn hình với hàng trăm lượt like. Chính vùng im lặng đó mới là nơi nỗi nhớ được là chính nó.

    Chưa có bình luận trong Nỗi nhớ, cái chết và những dấu vết còn lại trên mạng
  • Điều gì làm cho một cuộc đời đáng sống?

    Tháng Tám 5, 2025
    Uncategorized

    Cái chết, như một trải nghiệm không thể tránh khỏi của mỗi con người, thường nhắc nhở chúng ta nhiều hơn về cách ta đang sống và ý nghĩa thực sự của cuộc đời. William James (1842-1910) không định nghĩa sự đáng sống, hay hạnh phúc, theo chuẩn mực đạo đức học hay triết học cổ điển. Thay vào đó, ông dẫn chứng từ những trải nghiệm sống thực tế: một cậu bé đắm mình trong thiên nhiên, một công nhân chuyên tâm lao động, một người nghèo sống thầm lặng nhưng kiên cường… để chỉ ra rằng ý nghĩa cuộc sống không nằm ở vị thế xã hội hay tri thức cao siêu, mà ở trải nghiệm chủ quan về sự gắn bó và rung động với một lý tưởng nào đó.

    Theo James, một cuộc đời đáng sống là cuộc đời trong đó con người trung thành với một lý tưởng, dù khiêm nhường hay lớn lao, và sẵn sàng chịu đựng vì nó, không cần sự công nhận của người khác. Sự đáng sống không phải là vấn đề “nhiều hơn” (giàu có hơn, học thức hơn, tiện nghi hơn), mà là sự hiện diện của một yếu tố đặc biệt: sự kết hợp giữa lý tưởng và hành động kiên cường, giữa tinh thần tiến bộ và sự bền bỉ cá nhân. William James kêu gọi ta từ bỏ thói quen đánh giá vội vàng, và học lại cách “nhìn bằng trái tim” bởi “ngay cả trong nhà tù hay phòng bệnh cũng có những mạc khải đặc biệt”. Chúng ta không có quyền định đoạt điều gì là vô nghĩa trong đời sống của người khác.

    “Điều gì làm cho một cuộc đời đáng sống?” là một trong những bài nói nổi bật trong tập “Các bài nói chọn lọc về tâm lý học” (1891-1899) của William James (1842-1910) do Sách Thật xuất bản. Tác phẩm mang đến những suy tưởng vừa giản dị vừa sâu sắc, soi chiếu đời sống nội tâm như một ngọn đèn dẫn đường cho người đang lạc lối vậy. Hy vọng cuốn sách sẽ là món quà ý nghĩa dành cho sinh viên, giáo viên trong năm học mới sắp đến, cũng như những ai đang tìm kiếm ý nghĩa sống, niềm tin và dũng khí để tồn tại.

    Đây cũng là cuốn sách đầu tiên mình tham gia thiết kế bìa và dàn trang, nên khi được cầm cuốn sách trên tay, nhất là khi cảm nhận trực tiếp vẻ đẹp tinh tế của màu sắc, chất liệu bìa, và cả font chữ mà mình từng đắn đo lựa chọn, căn ke… mình đã có một cảm giác về nó, điều mà William James đã nói đến khi nói về “điều gì làm cho một cuộc đời đáng sống”😊. Các bạn quan tâm có thể đặt sách ở link bên dưới. Mình xin cảm ơn😘.

    1 bình luận trong Điều gì làm cho một cuộc đời đáng sống?
  • Vì sao tôi thích viết tay

    Tháng Năm 17, 2025
    Uncategorized

    Tôi thích viết tay vì cảm giác dễ chịu của nó, chưa bao giờ thắc mắc tại sao. Hôm nay tình cờ bạn tôi trông thấy những cuốn sổ tay và những trang viết nên mới ngạc nhiên hỏi: ồ cậu viết tay sao? (ý là thời đại nào rồi, gõ cho nhanh chứ lị). Ừm, bị hỏi thế tôi mới chợt nghĩ, ủa tại sao nhỉ, tại sao mình lại thích viết tay và thực hành viết tay như là hơi thở hàng ngày vậy?

    Có lẽ đầu tiên là vì viết tay buộc tôi phải viết chậm, kiên nhẫn lọc từng thông tin rồi diễn đạt lại theo cách của riêng mình. Quá trình này không vội vàng, giống như đang sắp xếp từng mảnh ghép của suy nghĩ vào đúng vị trí, nhờ đó, não dễ nhớ hơn. Nhất là vào những khi đầu óc rối tung lên như mớ bòng bong hỗn loạn, dẫn đến căng thẳng và mệt mỏi, thì việc viết ra giấy khiến tôi thấy trong lòng mình nhẹ nhõm đến lạ.

    Chiều 14/5 tại tiệm bánh L’Păng

    Thứ hai, viết tay thực sự kích hoạt não bộ theo nhiều kênh, một cách tự nhiên và hài hòa: tay cầm bút viết từng nét chữ, mắt dõi theo những dòng mực, đầu óc lặng lẽ xử lý chữ nghĩa và ý tưởng. Khi cầm bút, tôi còn cảm nhận được sự khéo léo của đôi tay mình, chữ có hôm xấu hôm đẹp, nét có lúc đậm lúc nhạt, tùy tâm trạng và tùy sức khỏe ^.^. Chính vì liên quan đến nhiều vùng hoạt động trong não (vận động, thị giác, ngôn ngữ, cảm xúc) nên việc viết tay mang lại cảm giác hứng thú, khiến tôi thực sự tập trung và bị cuốn vào, đúng như cách các nhà khoa học lý giải về sự hứng thú tham gia (engaged) trong quá trình học tập. Tất cả hòa quyện, tạo nên một sự kết nối tinh tế giữa ý nghĩ, hành động và cả cảm xúc.

    “James Pennebaker, người tiên phong trong nghiên cứu về viết biểu cảm, từng cho thấy rõ mối liên hệ giữa việc viết và sức khỏe. Khi người ta viết về vết thương, cortisol giảm. Khi người ta kể lại điều từng giày vò họ, hệ miễn dịch phục hồi. Nhưng điều quan trọng không chỉ nằm ở các chỉ số y sinh. Điều quan trọng nằm ở chỗ: viết khiến ta tin rằng những gì không thể chịu nổi vẫn có thể đặt tên, và một khi có thể đặt tên, nó sẽ bớt xa lạ. Viết, xét cho cùng, là việc tìm lại một trật tự đã mất. Khi chấn thương làm đứt gãy mạch truyện của đời sống, khi thời gian trở nên vô nghĩa và kí ức hóa thành những vỡ vụn, chính câu chữ sẽ lần hồi khâu lại. Từng từ, từng câu, là mũi chỉ đường kim đi vào nơi rách nát.” (trích từ FB anh Tino Cao)

    Khi viết một cách chậm rãi, tôi tập trung được sâu hơn, lâu hơn, như thể đang thực hành một buổi thiền vậy. Có lẽ đó chính là không gian thiêng của tôi, một không gian nơi mà, như Jung nói, con người có thể chữa lành bằng cách quay về với chính mình.

    Chưa có bình luận trong Vì sao tôi thích viết tay
1 2 3 … 9
Trang tiếp theo

Blog tại WordPress.com.

Vân’s blog

Thế giới của tôi là những gì tôi có thể viết ra

  • Tài NGUYÊN
 

Đang tải Bình luận...
 

    • Theo dõi Đã theo dõi
      • Vân’s blog
      • Đã có tài khoản WordPress.com? Đăng nhập.
      • Vân’s blog
      • Theo dõi Đã theo dõi
      • Đăng ký
      • Đăng nhập
      • Báo cáo nội dung
      • Đọc trong WordPress
      • Quản lý theo dõi
      • Ẩn menu