Bỏ qua nội dung
  • Đọc cùng một chủ đề, nhưng bằng nhiều đôi mắt

    Tháng Mười 22, 2018
    Nhật ký đọc

    Gần đây, tôi để ý thấy bài tóm tắt Dám bị ghét trên blog được nhiều người tìm đọc hơn hẳn. Gần như ngày nào cũng có lượt truy cập mới. Chắc cuốn đó vẫn đang “hot” thật.

    Cũng lâu rồi tôi chưa viết bài tóm tắt cuốn sách nào, dù vẫn đọc đều. Và toàn là sách “nặng ký” như Homo Sapiens, Homo Deus – nhiều ý tưởng hay nhưng để tóm gọn một cách rõ ràng lại không dễ. Có lẽ, thay vì cố gắng nhồi cả cuốn sách vào một bài viết, tôi nên chọn một vài chủ đề và đào sâu vào từng cái – sẽ hiệu quả và thỏa đáng hơn.

    Hôm 19/10, Nhà xuất bản Tri Thức tổ chức một buổi trình bày về ba cuốn sách của Yuval Noah Harari – gồm Homo Sapiens, Homo Deus và cuốn thứ ba chưa có bản dịch tiếng Việt là 21 Lessons for the 21st Century. Người trình bày là một bạn tên Nam. Bạn ấy có cách sắp xếp nội dung theo logic riêng, tuy nhiên vẫn còn thiếu chiều sâu, chưa thể hiện hết được tinh thần của Harari. May mắn là phần thảo luận sau đó rất chất lượng – mọi người đặt câu hỏi và bổ sung những khía cạnh rất đúng ý và đúng tầm.

    Nhân dịp này, tôi đang đọc song song thêm hai cuốn Vượn Trần Trụi (The Naked Ape) và Vườn thú người (The Human Zoo) của Desmond Morris. Cùng viết về con người từ góc nhìn sinh học – văn hóa – tiến hóa, nhưng cách các tác giả triển khai lại khác nhau rõ rệt. Harari lạnh lùng và hệ thống; Morris sinh động, châm biếm và nhiều chi tiết như một nhà động vật học quan sát loài vượn kỳ quặc mang tên “con người”.

    Đọc và so sánh cách mỗi tác giả nhìn cùng một chủ đề từ những lối tiếp cận khác nhau – với tôi, đó là phần thú vị và kích thích nhất của việc đọc.

    8 bình luận trong Đọc cùng một chủ đề, nhưng bằng nhiều đôi mắt
  • Liệu giáo dục có phải là một sự lãng phí thời gian và tiền bạc?

    Tháng Sáu 9, 2018
    Góc nhìn

    (Lược dịch từ bài Rethinking Education của tác giả Charles Chu trên trang The Polymath Project – Rethinking the Obvious)

    Ngày nay hầu như tất cả mọi người đều mặc định tin rằng càng dành nhiều thời gian và tiền bạc cho việc học hành thì sẽ càng gặt hái nhiều lợi ích. Nhưng trên thực tế liệu có đúng như vậy?

    Dưới đây là một vài ý kiến trái chiều, trích từ hai cuốn sách 23 things they don’t tell you about capitalism của tác giả Ha-Joon Chang và The Case against Education của Bryan Caplan.

    1. Mối tương quan chặt chẽ giữa trình độ giáo dục và sự thịnh vượng về kinh tế

    Số liệu thống kê cho thấy các nước giàu thường là những nước có trình độ giáo dục đạt ở mức cao, do đó muốn đất nước giàu mạnh hơn, chúng ta nên đầu tư nhiều hơn vào giáo dục. Điều này thoạt nghe dường như có lý, nhưng bạn phải nhớ rằng sự tương quan không đồng nghĩa với mối quan hệ nhân quả.

    Trong cuốn 23 things they don’t tell you about capitalism, tác giả Ha-Joon Chang đưa ra luận điểm cho rằng giáo dục chưa chắc đã là tác nhân chính thúc đẩy sự thịnh vượng của các quốc gia, mà mối tương quan này diễn ra theo chiều ngược lại mới đúng: đầu tiên các nước giàu lên, sau đó họ cống hiến nhiều nguồn lực hơn cho giáo dục.

    1. Giữa thực tế và những gì nhà trường dạy là một khoảng cách khổng lồ

    Chang cho rằng, hầu hết những gì chúng ta được học ở trường không thực sự hữu ích, có nhiều môn học chẳng có tác dụng gì kể cả là gián tiếp đối với năng suất của người lao động.

    Hơn nữa, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, một lực lượng lớn lao động ở những nước giàu giờ đây chỉ làm những công việc dịch vụ không đòi hỏi kỹ năng cao và cũng không đòi hỏi phải có trình độ học vấn cao – ví dụ nhân viên xếp dỡ hàng ở siêu thị, đầu bếp trong nhà hàng ăn nhanh hay tạp vụ. Những công việc kiểu này ngày càng chiếm tỉ trọng lớn, nên chúng ta thực sự không cần người lao động phải có học vấn cao. Đúng là tri thức ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, nhưng trách nhiệm này không nhất thiết đòi hỏi mỗi cá nhân phải chiếm lĩnh càng nhiều càng tốt tri thức của nhân loại. Chúng ta cần tri thức tập thể. Cùng với sự phát triển kinh tế và kỹ thuật, một tỉ lệ lớn tri thức cuả nhân loại nằm ở máy móc. Điều này có nghĩa là năng suất của nền kinh tế nói chung vẫn tăng lên cho dù lực lượng lao động hiện tại không thực sự hiểu thấu đáo công việc của họ bằng thế hệ ngày xưa. Một ví dụ điển hình là ở các nước giàu, nhân viên bán hàng thậm chí không cần biết cách cộng trừ nhân chia.

    1. Giáo dục chỉ là một dấu hiệu nhận biết

    Trong xã hội ngày nay, người có học vị cao được trả lương cao hơn. Và người có trình độ học vấn cao thường thể hiện tốt hơn trong công việc, có khả năng thăng tiến cao hơn. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng trong khi chúng ta khẳng định, nhà trường không thể trang bị cho người học kỹ năng làm việc thực tế, thì tại sao lại có chuyện người học nhiều hơn lại làm việc tốt hơn?

    Trong cuốn The Case agains Education, Bryan Caplan – nhà kinh tế học ĐH George Mason đã viết: “Bất chấp những gì nhà trường dạy là hoàn toàn vô dụng, các nhà tuyển dụng vẫn sẵn sàng trả lương cao hơn cho những ứng viên có thành tích học tập tốt. Giả sử một công ty tư vấn luật cần tuyển thực tập sinh, họ sẽ hài lòng với ứng viên là nghiên cứu sinh ngành triết học của ĐH Stanford. Bởi vì căn cứ theo hồ sơ học tập, họ có thể suy ra ứng viên là người thông minh sáng láng, chăm chỉ và sẵn sàng làm những công việc nhàm chán.”

    Và Caplan cho rằng, thời gian bốn năm ở trường đại học, cộng với khoản học phí khoảng 100 nghìn đô, cộng với bốn năm không có cơ hội kiếm tiền vì phải dành thời gian đi học, chỉ để chứng minh cho nhà tuyển dụng thấy được những phẩm chất mà ngay từ đầu bạn đã có, là hoàn toàn lãng phí.

    4. Ai cũng có bằng đại học, vậy tôi phải học thạc sĩ

    Giáo dục cũng có thể bị mắc kẹt trong cái vòng tròn luẩn quẩn là để có lợi thế cạnh tranh, chúng ta cần có học vị càng cao càng tốt. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu trên thế giới này ai cũng có bằng cấp cao? Chúng ta sẽ buộc phải có bằng cấp còn cao hơn nữa. Và vô hình trung, chúng ta sẽ dành suốt phần đời còn lại để đến trường học. Thực ra, nếu tất cả mọi người cùng từ chối cuộc chạy đua bằng cấp, chúng ta sẽ chẳng cần phải cố để có bằng cấp cao hơn mà vẫn đạt được kết quả tương tự. (ví dụ tầm nhìn ở sân vận động khi tất cả cùng ngồi xuống hay tất cả cùng đứng lên chẳng khác nhau là mấy)

    Kết luận

    Nếu cá nhân bạn muốn tăng khả năng có việc làm tốt, thì không cần thay đổi gì cả. Hãy đến trường đi học và cố gắng đạt được học vị càng cao càng tốt. Vì người sử dụng lao động muốn điều đó.

    Nhưng nếu bạn quan tâm đến xã hội nói chung, thì những vấn đề trên đây đặt ra những câu hỏi thú vị: liệu giáo dục có thực sự quan trọng như chúng ta từng nghĩ? Liệu ta có nên nghĩ đến các phương án thay thế, trường dạy nghề chẳng hạn? Nếu sở hữu một số phẩm chất nhất định nghĩa là dễ có việc làm hơn, thì những người vốn không sở hữu phẩm chất đó nên làm gì?

    5 bình luận trong Liệu giáo dục có phải là một sự lãng phí thời gian và tiền bạc?
  • Khi hơi thở hóa thinh không

    Tháng Sáu 8, 2018
    Nhật ký đọc

    Một trong những điều để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí tôi là cách bác sĩ Paul trăn trở khi phải quyết định chọn phương án điều trị nào, để giữ lại cho bệnh nhân “thứ” quan trọng nhất với họ trong cuộc sống sau này, để họ có thể tạo ra những giá trị có ý nghĩa cho cuộc đời của chính họ và những người xung quanh. Và đến lượt mình, với cuộc sống hữu hạn phía trước, anh ấy cũng luôn trăn trở làm thế nào để tận dụng tốt nhất thời gian còn lại sao cho có ích nhất với gia đình và với cộng đồng. Sự chân thành và những trăn trở vượt trên bi kịch của cá nhân ấy khiến tôi cảm phục và xúc động muốn rơi nước mắt, khiến bản thân người đọc là tôi muốn cố gắng sống một cách ý nghĩa hơn. Đây thực sự là một cuốn sách truyền cảm hứng sống, đặc biệt nếu bạn đang rơi vào tâm trạng buồn bực hay thất vọng. Đừng nghĩ cuốn sách này gợi lên những gì sầu muộn. Đó là cuốn sách của hy vọng đấy. Recommend cho những ai đang buồn giống tôi, bạn sẽ thấy nỗi buồn của bạn mới nhỏ bé và vô nghĩa làm sao…

    Chưa có bình luận trong Khi hơi thở hóa thinh không
  • 10 cách để hạnh phúc (đã được khoa học chứng minh)

    Tháng Tư 20, 2018
    Góc nhìn

    Không hạnh phúc thì cũng chẳng sao cả. Quan điểm của tôi là không việc gì phải cố để được hạnh phúc. Nếu bất hạnh có ập đến, nếu sự việc không mong muốn cứ thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình, tôi khuyên bạn nên chấp nhận đương đầu. Hãy để dành năng lượng để giải quyết vấn đề của mình hoặc để vượt qua nỗi bất hạnh.

    Nhưng nếu cần thêm năng lượng vui vẻ, bạn hoàn toàn có thể thử những cách sau nhé. Đây là danh sách những việc làm giúp bạn cảm thấy hạnh phúc hơn, trên cơ sở khoa học, tức là họ đã có nghiên cứu về sự tăng lên của các hormone hạnh phúc khi thực hiện các hoạt động này. Có một vài cách rất dễ làm mà lại đạt hiệu quả ngay lập tức:

    1. Tập thiền
    2. Mỉm cười nhiều hơn
    3. Ngủ nhiều hơn một chút
    4. Thực hành lòng biết ơn mỗi ngày
    5. Giúp đỡ người khác
    6. Tập thể dục ít nhất 7 phút
    7. Ra ngoài đi dạo (nhiệt độ ngoài trời lý tưởng là 14 độ xê)
    8. Chuyển nhà đến gần nơi làm việc
    9. Dành thời gian bên gia đình và bạn bè
    10. Lên kế hoạch cho một chuyến đi (nhưng đừng đi :D)

    Tôi không hiểu vì sao ở lời khuyên số 10 lại có mở ngoặc là “đừng đi”, và cách này tôi cũng chưa bao giờ thử. Ngoài ra, tôi cũng không làm điều số 1 (tập thiền).

    2 bình luận trong 10 cách để hạnh phúc (đã được khoa học chứng minh)
  • Động cơ học tập của con người

    Tháng Ba 27, 2018
    Góc nhìn

    Xét về động cơ học tập, con người thường được chia thành ba nhóm:

    1. Một số người theo đuổi sự tinh thông, nắm bắt được tinh tuý của vấn đề và cố gắng hiểu thấu vấn đề đó. Những người như vậy được gọi là những người học sâu (deep learners)
    2. Một số người tìm kiếm những cơ hội để thể hiện sự vượt trội so với người khác. Trong lớp học, những sinh viên như thế thường xuyên trở thành những người học có chiến lượclược, chỉ quan tâm đến việc giành được điểm số cao nhưng chẳng mấy khi sẵn sàng nắm bắt những ý nghĩa sâu sắc hơn đủ để thay đổi nhận thức của chính mình. Họ là những người học kiểu nhồi sọ (bulimic learners)
    3. Cuối cùng, là những sinh viên chuyên tìm cách tránh né sự thất bại, được gọi là “những người có thành tích nhờ sự tránh né” (performance-avoiders). Trong lớp học, họ thường là những người học hời hợt (surfacesurface learners), chẳng bao giờ sẵn lòng dành nỗ lực để tìm hiểu đủ sâu vào một chủ đề chỉ vì họ sợ sự thất bại cho nên họ phải bám víu vào sự cố gắng đối phó đủ để tồn tại. Họ thường cầu viện đến ký ức và chỉ cố gắng lập lại những gì mà họ đã được nghe.

    (Phẩm chất của những nhà giáo ưu tú, tr. 90-91)

    Chưa có bình luận trong Động cơ học tập của con người
Trang trước
1 2 3 4 5 6 … 10
Trang tiếp theo

Blog tại WordPress.com.

Vân’s blog

Thế giới của tôi là những gì tôi có thể viết ra

  • Tài NGUYÊN
  • Theo dõi Đã theo dõi
    • Vân’s blog
    • Đã có tài khoản WordPress.com? Đăng nhập.
    • Vân’s blog
    • Theo dõi Đã theo dõi
    • Đăng ký
    • Đăng nhập
    • Báo cáo nội dung
    • Đọc trong WordPress
    • Quản lý theo dõi
    • Ẩn menu